Chúng ta đang sống trong một thời đại mà ai cũng sợ sự trống rỗng. Người ta hì hục nhồi nhét tiền tài, danh vọng vào mình cho thật đặc ruột, và cố đánh bóng lớp vỏ bên ngoài cho thật chói lóa không tì vết. Nhưng trong thế giới của tự nhiên và cơ khí, một khối sắt đặc ruột không thể sinh công, và một bề mặt bóng loáng lại là thứ dễ bị xước xát, bầm dập nhất. Ở Chương 4 Đạo Đức Kinh, Lão Tử dắt ta về lại với sức mạnh của sự rỗng không và triết lý “Hòa quang đồng trần”. Bóc tách sự vật qua hình ảnh lòng xi-lanh máy nổ và bề mặt nhôm phun cát, bài viết này là một khoảng lùi tĩnh lặng, giúp bạn tự cầm giũa mài đi lớp ba-via sắc lẹm của cái tôi để thong dong trộn mình cùng bụi bặm đời thường.
Cái Không Gian Rỗng Và Bề Mặt Nhôm Phun Cát: Đọc Lại Đạo Đức Kinh Chương 4
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh.
Uyên hề tự vạn vật chi tông.
Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân,
Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần.
Trạm hề tự hoặc tồn.
Ngô bất tri thùy chi tử,
Tượng đế chi tiên.
(Bản dịch: Đạo trống rỗng, nhưng đem dùng thì không bao giờ cạn kiệt, rót vào cũng không bao giờ đầy đặn.
Sâu thẳm thay, dường như nó là cội nguồn tổ tông của muôn loài.
Nó làm nhụt đi những mũi nhọn sắc bén, tháo gỡ những mớ bòng bong rối rắm.
Nó làm dịu bớt ánh sáng chói lòa, tự hòa mình trộn lẫn cùng với bụi bặm.
Đầm mình chìm sâu thẳm, dường như nó luôn luôn hiện hữu.
Ta không biết nó là con của ai, sinh ra từ đâu.
Hình như nó đã ở đó từ trước cả khi tạo hóa bắt đầu).
…
Tôi đang nhìn cái bát ăn dở lưng cơm đặt trên mặt bàn.
Chỉ là một cái bát bình thường, rành rành ngay trước mắt. Lớp vật liệu tạo nên nó là sứ tráng men, đặc ruột, cứng cáp, sờ nắn được. Nhưng ngẫm mà xem, toàn bộ công năng của cái bát hoàn toàn không nằm ở khối vật chất sờ được ấy. Nó nằm ở khoảng không trống rỗng bên trong.
Cái khoảng rỗng ấy thản nhiên nhận lấy lưng bát cơm nóng, chan thêm muôi canh. Ăn xong, rửa sạch bằng bọt xà phòng, úp lên chạn, nó lại rỗng tuếch. Cứ lấy ra dùng ngày này qua tháng khác, cái không gian vô hình đó không bao giờ bị hao mòn hay cạn kiệt. Rótt vào nó nước lọc, rượu gạo hay cháo loãng, nó thản nhiên chứa đựng, không từ chối, cũng chẳng giữ rịt lấy làm của riêng.
Một khối vỏ vật chất thô mộc, ôm lấy một khoảng không vô hình để duy trì sự sống.
Đạo xung nhi dụng chi hoặc bất doanh.
Câu này nghĩa là: Đạo mang hình hài của sự trống rỗng, không giới hạn. Rút lấy để dùng mãi cũng không cạn, mà đổ thêm vào bao nhiêu cũng chẳng bao giờ tràn.
Hãy nhìn vào buồng đốt của một cỗ máy. Không có cái khoảng không trống rỗng vô hình bên trong lòng xi-lanh đó, hỗn hợp xăng và không khí lấy chỗ nào để hút vào, nén lại và kích nổ? Một khối sắt đặc ruột thì chắc chắn, nhưng nó vô dụng. Nó không sinh công.
Tôi mang cái lý thuyết đặc – rỗng ấy áp vào con người mình. Có những ngày ngồi trong phòng họp, đối diện với những áp lực và sự dồn ép từ cấp trên, đầu óc tôi đông cứng lại. Áp bức từ những lời nói gay gắt nặng như những tảng đá ném thẳng vào mặt. Lúc đó, cái tôi của mình là một khối sắt đặc ruột. Khi ngoại lực va đập vào, nó sinh ra chấn động. Tâm trí rạn nứt. Mình hoảng loạn. Mọi ngôn từ phản kháng nghẹn ứ lại ở cổ họng.
Nhưng nếu mình lùi lại. Rút cạn cái bản ngã đi, biến tâm trí mình thành một cái bát rỗng. Xung. Những lời gay gắt kia cứ thế rót vào, rồi trôi tuột đi như cặn nước rửa bát, chẳng có chỗ nào để bám víu. Không có cái nắp đậy của sự tự ái, thì lấy đâu ra áp suất để mà phát nổ? Cứ rỗng không mà đón nhận. Rỗng, nên chứa được mọi thứ ồn ào vỡ vạc của thế gian mà không mảy may sứt mẻ.
Uyên hề tự vạn vật chi tông.
Nghĩa là: Cái khoảng rỗng ấy vô cùng sâu thẳm, thăm thẳm đến mức nó dường như là cái gốc gác, tổ tông sinh ra muôn loài.
Ở dưới đáy ruộng, bên dưới lớp bùn nhão nhoét mùi rạ mục, là tầng tầng lớp lớp những mao dẫn li ti của đất. Nhờ những khoảng rỗng nhỏ bé tối tăm và sâu kín đó, nước mới len lỏi được vào để nuôi sống rễ lúa. Sự sống mơn mởn đâm chồi trên mặt đất, bắt nguồn từ cái không gian vắng lặng, đen ngòm dưới đáy sâu. Cái rỗng không không phải là sự chết. Nó là cái nôi ấp ủ vạn vật.
—
Tỏa kỳ nhuệ, giải kỳ phân.
Nghĩa là: Mài cho nhụt đi những sự nhọn hoắt sắc bén, gỡ nới lỏng ra những mối thắt bòng bong.
Trong xưởng cơ khí, cắt một phôi thép hay một tấm tôn vừa ra khỏi máy, đường cắt bao giờ cũng để lại những gờ kim loại mỏng dính, lởm chởm. Thợ chúng tôi gọi là lớp ba-via. Để nguyên như thế mà cầm, cạnh thép sắc lẹm sẽ cứa rách bươm da thịt. Lắp ráp vào cỗ máy, nó cào xước nát bét các chi tiết liền kề. Bắt buộc phải vớ lấy cái giũa cọ vài đường, hoặc cho qua máy đánh bóng. Cạnh thép tù lại. Nó mất đi sự bén ngót hầm hố ban đầu, nhưng trở nên an toàn. Khối thép lúc này nằm ngoan ngoãn, gá vào đâu cũng vừa vặn, êm ái mà không làm xước xát ai.
Con người ta lúc trẻ cũng đầy rẫy ba-via. Ta vỗ ngực tự ái. Ta sắc cạnh. Ta chẻ hoe đúng sai rạch ròi, hễ ai trái ý là ta buông lời cay độc, cứa lại cho tươm máu mới thôi. Gặp một mớ bòng bong mâu thuẫn (phân), ta hùng hục muốn dùng cái lý lẽ sắc nhọn của mình để chặt đứt nó ra cho sòng phẳng. Nhưng lấm lem bùn đất đủ lâu, bầm dập đủ nhiều, ta nhận ra cái sự nhọn hoắt ấy rốt cuộc chỉ gây ứa máu cho chính mình và người thân.
Đạo dạy ta mài đi cái ngạo mạn. Tự cầm giũa mài đi cái phần ba-via rát buốt của bản ngã. Thấy một mối quan hệ đang căng như dây đàn, ta không vùng vằng giật đứt. Ta nới lỏng tay. Buông xả. Cái gai góc tự lặn vào trong. Cứ tĩnh lặng lùi lại, để cho sự bao dung tự bo tròn mọi góc cạnh.
Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần.
Nghĩa là: Thu liễm, che mờ bớt cái ánh sáng chói lóa đi, và vui vẻ lấm lem, trộn lẫn mình vào bụi bặm của thế gian.
Trong thiết kế công nghiệp, nếu bạn tiện một chi tiết nhôm rồi đánh bóng láng o. Sáng choang. Hoàn hảo. Rất đẹp. Nhưng chỉ cần một cái chạm tay, dấu vân tay in hằn lên đó. Chỉ cần một hạt cát quét qua, nó xước một vệt dài đau đớn. Việc bảo vệ sự hoàn hảo sáng lóa đó là một nỗ lực tuyệt vọng.
Thay vì thế, kỹ sư chúng tôi đem chi tiết nhôm ấy đi phun cát (sandblasting). Bắn hàng vạn hạt cát nhỏ li ti vào bề mặt, tạo ra một lớp nhám mờ, lấm chấm, thô mộc. Chi tiết nhôm lúc này mất đi sự hào nhoáng. Nó ngậm lấy màu xám của cát, của bụi. Nó “đồng kỳ trần”. Và điều kỳ diệu là, từ đó về sau, dù quăng quật, dù dính dầu mỡ bùn đất, nó vẫn giữ nguyên được cái vẻ mộc mạc bền bỉ ấy. Nó không bị tổn thương nữa.
Cuộc đời thong dong nhất là khi ta gột bỏ cái lớp áo khoác hào quang bên ngoài. Không cần phải tỏ ra vĩ đại, tài giỏi hay thanh cao. Cứ làm một người bình thường. Xắn quần lội bùn cùng bác nông dân cấy lúa. Cầm kìm gõ búa cùng thằng thợ học việc rách áo. Hòa vào vũng nước đọng ven đường. Vui vẻ nhặt nhạnh những niềm vui vụn vặt, mộc mạc nhất của một kiếp nhân sinh vất vả. Giấu cái ánh sáng trí huệ vào tận trong tim, bên ngoài phủ một lớp bụi mờ. Không ai chú ý. Không ai nhắm tới. Tự do tuyệt đối.
Trạm hề tự hoặc tồn.
Nghĩa là: Lắng sâu, chìm lấp ở bên dưới, nhưng dường như nó luôn luôn tồn tại, không bao giờ mất đi.
Bề mặt vạn vật thay đổi liên tục. Ruộng nứt nẻ rồi lại ngập nước. Cỗ máy lắp ráp rồi tháo dỡ. Con người đến rồi đi. Nhưng nếu đào sâu xuống dưới lớp đá phiến cứng ngắc, mạch nước ngầm vẫn luôn ở đó. Nó không phô trương như con thác lớn, nó chìm nghỉm vô danh. Im lặng chảy.
Ngô bất tri thùy chi tử, Tượng đế chi tiên.
Lão Tử thú nhận: Ta cũng chẳng biết cái nguyên lý kỳ diệu ấy là con của ai, sinh ra từ đâu. Chỉ biết rằng, hình như nó đã nằm lẩn khuất ở đó từ trước khi khái niệm về Tạo hóa, Thượng đế hay vạn vật được định hình.
Bởi vì nó đứng ngoài mọi bản vẽ CAD phức tạp. Nó nằm ngoài mọi phương trình toán học hay vật lý lượng tử mà trí óc con người có cố công nhồi nhét. Nó là sự thật vĩnh hằng. Có nhúng tay vào, có bóp méo nó bằng những thứ ngôn từ triết học bóng bẩy đi chăng nữa, thì lòng cái bát ăn cơm vẫn cứ rỗng, mép thép giũa sạch lớp ba-via vẫn nằm êm ái, và bề mặt nhôm phun cát vẫn cứ trơ gan cùng sương gió.
…
Cơn mưa chiều tạnh hẳn.
Nước từ lỗ thủng trên mái tôn xưởng rỏ từng giọt “tí tách… tí tách” thẳng xuống vũng nước đọng trên nền xi măng nứt nẻ, loang lổ màng dầu máy dưới gót giày. Vũng nước lõm bõm thản nhiên nhận lấy từng giọt rơi xuống. Không cự tuyệt. Nó dung chứa mọi thứ mạt sắt gỉ sét, bùn đất và váng dầu đen kịt hòa vào làm một.
Lấm lem. Bụi bặm.
Kéo chiếc ghế đẩu ra hiên, tôi nhấp một ngụm nước đun sôi để nguội nhạt toẹt, thả lỏng bả vai. Nghe gió chạy luồn qua những tán cây xào xạc bên kia xưởng. Một hơi thở hắt ra, kéo theo tất thảy những ồn ã, đè nén của một ngày nhọc nhằn tuột đi mất.
Chẳng còn phải chứng minh điều gì với ai nữa. Cứ để bụi phủ lên vai. Yên ả. Tĩnh lặng đến kiệt cùng.




