PHẢN PHÁC — SỨC CHỨA CỦA THUNG LŨNG TRŨNG, ĐỘ BỀN CỦA ĐÁ NGUYÊN KHỐI VÀ NGHỆ THUẬT GIỮ MÌNH NGUYÊN VẸN
Tiếng búa chạm đá dưới đáy khe sâu và tảng đá mộc chưa từng qua lưỡi đục
Nguyên tác Đạo Đức Kinh – Chương 28:
Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, vi thiên hạ khê; vi thiên hạ khê, thường đức bất li, phục qui ư anh nhi.
Tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc, vi thiên hạ thức; vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.
Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục, vi thiên hạ cốc; vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục qui ư phác.
Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế bất cát.
Bản dịch:
Biết cái hùng mạnh, giữ cái nhu thuận, làm khe suối cho thiên hạ; làm khe suối cho thiên hạ, Thường Đức chẳng rời, quay về trạng thái trẻ thơ.
Biết cái sáng tỏ, giữ cái trầm tối, làm khuôn mẫu cho thiên hạ; làm khuôn mẫu cho thiên hạ, Thường Đức chẳng sai lệch, quay về cõi Vô Cực.
Biết cái vinh hiển, giữ cái nhuốc nhơ, làm thung lũng cho thiên hạ; làm thung lũng cho thiên hạ, Thường Đức mới đầy đủ, quay về với cái Phác.
Cái Phác tản ra thì thành khí cụ, bậc Thánh nhân dùng đó, thì làm trưởng trăm quan, cho nên sự chế tác lớn lao không cắt xẻ.
Tiếng choòng sắt nện vào vách đá xanh vang lên chát chúa giữa sườn núi trưa hè, dội qua vòm nắng gắt rồi rơi tõm xuống lòng khe cạn dưới chân đồi. Trên bậc đá nham nhở những vết cạy mới, người thợ đục đá khom lưng rút chiếc nêm sắt ra khỏi kẽ nứt, bàn tay thô ráp phủ một lớp bột đá xám ngoét quyện chặt với mồ hôi mặn chát đang rỉ ra từ từng lỗ chân lông. Những mảnh đá dăm sắc lẹm văng tung tóe quanh đôi ủng cao su đã mòn vẹt gót, trong khi cách đó vài sải tay, dưới bóng râm ẩm lạnh của vách núi trũng, một mạch nước ngầm vẫn âm thầm rỉ qua lớp rêu xanh mướt, gom từng giọt trong vắt chảy về lòng khe sâu, nơi nằm im lìm một tảng đá mộc khổng lồ chưa từng in dấu búa đục.
Tri kỳ hùng, thủ kỳ thư, vi thiên hạ khê; vi thiên hạ khê, thường đức bất li, phục qui ư anh nhi.
(Biết cái hùng mạnh, giữ cái nhu thuận, làm khe suối cho thiên hạ; làm khe suối cho thiên hạ, Thường Đức chẳng rời, quay về trạng thái trẻ thơ.)
Trong cấu trúc ngôn từ cổ của Lão Tử, Hùng và Thư vốn là hai danh từ chỉ giống đực và giống cái của loài chim muông, từ đó mở rộng thành hai cực đối lập của trạng thái vận động: Hùng là phần dương cương, là sức mạnh phô trương vươn lên phía trước để chế ngự và khẳng định vị thế; Thư là phần âm nhu, là sự mềm mại, lùi lại và tĩnh tại để dung chứa. Điểm cốt tử nằm ở chỗ văn bản đặt chữ Tri (nhận biết thấu suốt) đi trước chữ Thủ (nắm giữ, an trú). Biết rõ cái hùng mạnh nghĩa là thấu hiểu tường tận cơ chế của sức mạnh, quyền lực và sự sắc bén, hoàn toàn khác với sự yếu ớt của kẻ bất lực không có khả năng vươn lên; thế nhưng sau khi đã biết rõ sức mạnh ấy, bậc trí giả lại chủ động chọn giữ lấy cái Thư mềm mỏng và thấp trũng. Khi tự đặt vào vị thế nhu thuận như Khê (khe suối trũng dưới chân núi), mọi dòng chảy từ các đỉnh cao đều tự khắc đổ dồn về. Chính vì không dùng sức mạnh để cưỡng đoạt mà lấy sự thấp trũng để tiếp nhận, bản tính tự nhiên nguyên sơ là Thường Đức không bị hao tổn hay thất thoát (bất li), đưa sinh mệnh trở về trạng thái Anh nhi — đứa trẻ sơ sinh với xương cốt mềm mại, không chút cơ tâm phòng vệ nhưng lại ẩn chứa sinh lực dồi dào nhất.
Nhìn vào nhịp thở gấp gáp của đời sống mưu sinh, con người thường bị cuốn vào cơn khát chứng tỏ cái Hùng. Giữa những công trường ngổn ngang hay những cuộc đua tranh chức tước nơi phố thị, ai cũng muốn làm đỉnh núi cao ngạo nghễ, làm lưỡi choòng thép cứng rắn nhất để đục thủng mọi rào cản. Bàn tay ghì chặt cán búa đến trắng bệch các đốt ngón, vết phồng rộp vỡ ra thấm đẫm mồ hôi chua nồng, cổ họng khản đặc những lời tranh biện để giành phần thắng về phía cái danh hão. Khi một cá thể liên tục gồng cứng cơ bắp và tâm trí để duy trì tư thế tấn công, toàn bộ sinh khí đều bị đốt cháy vào lực ma sát với ngoại cảnh. Càng gồng lên để chứng tỏ sự bất khả chiến bại, lớp vỏ cứng ấy càng dễ giòn gãy trước một lực va đập bất ngờ, để lại tiếng thở dốc nặng nhọc trong đêm tối khi tấm lưng đã rã rời vì gánh nặng của sự hiếu thắng.
Sự vận hành của tự nhiên lại tuân theo một phương trình cơ học hoàn toàn trái ngược với sự gồng cứng ấy. Trong thủy văn học và động lực học chất lưu, đỉnh núi đá dựng đứng đón nhận toàn bộ sức tàn phá của gió bão và quá trình bào mòn cơ học vì nó đứng ở điểm có thế năng trọng trường cao nhất, trong khi lòng khe suối nằm ở điểm trũng nhất của địa hình lại là nơi hội tụ toàn bộ nguồn nước mà không tốn một đơn vị công năng nào để dẫn dụ. Nước từ ngàn khe tự chảy về chỗ thấp theo véc-tơ trọng lực, nuôi dưỡng hệ sinh thái ven bờ và làm dịu đi nhiệt lượng khắc nghiệt của đất trời. Hiện tượng này đồng vọng sâu sắc với cấu trúc sinh lý học của một đứa trẻ sơ sinh: cơ thể trẻ nhỏ sở dĩ có thể ngã mà ít gãy xương, khóc suốt ngày mà không khản tiếng, là bởi hệ cơ xương chứa tỷ lệ mô sụn và nước rất cao, các khớp nối hoàn toàn lỏng lẻo, không hề có sự co cứng cơ bắp do phản xạ kháng cự của ý thức mang lại.
Khi thấu suốt được giới hạn của sự cương cường để chủ động lùi về giữ thế nhu thuận, áp lực nội tại trong tâm thức lập tức được giải nén. Sự lùi lại như lòng khe suối không làm mất đi năng lực giải quyết công việc, mà trái lại, giúp triệt tiêu hoàn toàn lực cản của sự đối đầu trực diện. Giữa một tập thể hay một gia đình đang căng thẳng như dây đàn, thái độ điềm tĩnh tiếp nhận mọi luồng xung lực rồi hóa giải chúng trong sự mềm mại giúp bảo toàn nguyên vẹn nguồn năng lượng gốc, giữ cho tâm trí luôn tươi mới, dẻo dai và bền bỉ như mạch nước ngầm không bao giờ cạn kiệt.
Tri kỳ bạch, thủ kỳ hắc, vi thiên hạ thức; vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.
(Biết cái sáng tỏ, giữ cái trầm tối, làm khuôn mẫu cho thiên hạ; làm khuôn mẫu cho thiên hạ, Thường Đức chẳng sai lệch, quay về cõi Vô Cực.)
Bước sang tầng đối đãi thứ hai, Lão Tử đặt Bạch (màu trắng, ánh sáng rực rỡ, sự phân định rạch ròi trắng đen, sự thông tuệ phô bày ra ngoài) đối diện với Hắc (màu đen, bóng tối thâm trầm, sự hàm súc, ẩn tàng). Thức ở đây là cái khuôn, cái thước đo chuẩn mực của người thợ thủ công cổ đại, dùng để định hình vạn vật mà bản thân nó không bị biến dạng; còn Thắc là sự sai lệch, chệch choạc khỏi quy chuẩn tự nhiên. Nguyên lý nhân quả trên mặt chữ chỉ rõ: Kẻ chỉ biết phơi bày cái sáng láng, sắc sảo ra bên ngoài để phân biệt phải trái, hơn thua thì tâm trí sẽ bị xé lẻ bởi muôn vàn hình tướng đối lập, dẫn đến sự sai lệch trong Đức tính nguyên sơ. Ngược lại, thấu rõ cái sáng tỏ nhưng tự giữ lấy sự trầm mặc như bóng đêm (thủ kỳ hắc), không phô trương trí xảo, thì chính khoảng tối tĩnh lặng ấy lại trở thành khuôn mẫu vững chắc nhất cho thiên hạ soi vào, giữ cho Thường Đức không mảy may sai chệch (bất thắc) và đưa bản thể hội nhập vào Vô Cực — trạng thái nguyên thủy mênh mông chưa hề bị chia cắt bởi bất kỳ đường biên giới hạn nào.
Giữa cái nắng trưa gay gắt dội xuống bãi đá vôi trắng xóa, ánh sáng phản chiếu chói lòa làm nhức buốt đôi mắt trần, buộc hàng lông mày phải chau lại trong sự căng thẳng tột độ. Bụi đá trắng bay mù mịt, bám khô khốc vào khóe môi nứt nẻ và làm rát bỏng niêm mạc mũi. Đời sống hiện đại cũng giống như bãi đá phơi giữa nắng trưa ấy, nơi con người khao khát được đứng dưới ánh đèn rực rỡ của sự công nhận, muốn mọi thành tựu, lý lẽ và sự sắc sảo của bản thân đều được phơi bày sáng trưng trước mắt thế gian. Càng cố gắng giữ cho lớp vỏ ngoài trắng trong, hoàn hảo và sắc lẹm để phân định đúng sai với người đời, thần kinh càng bị kéo căng trước từng hạt bụi nhỏ của lời dị nghị, khiến tâm trí rơi vào trạng thái kiệt quệ vì sự cảnh giác thường trực.
Nếu soi chiếu qua quy luật quang học vật lý và cấu trúc của vũ trụ vĩ mô, sự chói lòa bề mặt thực chất luôn đi kèm với sự suy thoái năng lượng nhanh chóng. Một bề mặt màu trắng sở dĩ chói sáng là bởi nó phản xạ và đẩy bật hầu hết các bước sóng ánh sáng chiếu tới mà không hấp thụ vào chiều sâu cấu trúc, đồng thời sự phơi sáng liên tục dưới bức xạ cường độ cao luôn thúc đẩy quá trình quang phân hủy làm giòn gãy bề mặt vật liệu; trong khi đó, một vật thể màu đen hoặc một hốc tối sâu thẳm lại hấp thụ trọn vẹn mọi bức xạ điện từ, chuyển hóa và lưu giữ nội năng một cách tĩnh lặng. Phóng tầm mắt ra ngoài bầu khí quyển, toàn bộ các vì sao rực rỡ và các thiên hà đang quay cuồng đều được ôm trọn trong khoảng không gian tối thẫm vô biên của vũ trụ, nơi bóng tối không phải là sự thiếu vắng ánh sáng, mà là cái nền dung chứa vĩ đại không có biên giới, giữ cho mọi quỹ đạo thiên thể vận hành với độ chính xác tuyệt đối qua hàng tỷ năm.
Trạng thái thu liễm ánh sáng của sự thông tuệ vào bên trong vẻ ngoài trầm mặc chính là cơ chế bảo vệ tối thượng của sự sống. Khi không còn nhu cầu phô diễn sự sắc sảo hay dùng lý lẽ sắc bén để chiếu rọi lỗi lầm của vạn vật, tâm thức thoát khỏi sự giam cầm của những khung hình nhị nguyên chật hẹp. Giống như bóng râm mát lạnh dưới chân vách núi làm dịu đi cơn bỏng rát của nắng hè, sự thâm trầm giúp trí tuệ nhìn thấu mọi biến động trong sáng suốt mà không tiêu hao thần khí, trả lại cho nội tâm một không gian mênh mông không bờ bến, nơi mọi gánh nặng trách nhiệm đều được điều phối trong sự tĩnh tại tuyệt đối.
Tri kỳ vinh, thủ kỳ nhục, vi thiên hạ cốc; vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục qui ư phác.
(Biết cái vinh hiển, giữ cái nhuốc nhơ, làm thung lũng cho thiên hạ; làm thung lũng cho thiên hạ, Thường Đức mới đầy đủ, quay về với cái Phác.)
Ở tầng chuyển hóa thứ ba, Vinh mang nghĩa gốc là cây ngô đồng trổ hoa rực rỡ trên cành cao, biểu trưng cho danh vọng, sự tôn quý và vẻ hào nhoáng bề ngoài; đối lập với Nhục là lớp bùn nhơ, sự lấm lem, vị thế thấp kém bị người đời xem nhẹ. Nếu ở câu đầu Lão Tử dùng hình ảnh Khê (khe suối hẹp), thì đến đây hình tượng đã mở rộng thành Cốc — thung lũng trũng sâu và bao la nằm giữa các dãy núi lớn. Khi biết rõ quy luật sớm nở tối tàn của cái Vinh mà điềm nhiên đón nhận sự lấm lem của cái Nhục, tự mở rộng lòng như thung lũng trũng để dung chứa cả nước trong lẫn bùn đục của thế gian, thì Thường Đức mới đạt đến độ viên mãn, tràn đầy (nãi túc). Đích đến của sự viên mãn này là Phác — khúc gỗ mộc vừa đốn từ rừng về hoặc tảng đá nguyên sinh chưa hề bị bàn tay thợ thuyền đẽo gọt, giữ nguyên vẹn kết cấu thô ráp và sức mạnh toàn bích của tự nhiên.
Trong guồng quay của xã hội trọng danh, không một vết thương nào cứa vào lòng tự ái sâu hơn sự rẻ rúng và lấm lem của thân phận. Dưới đáy thung lũng sau cơn mưa rào, lớp bùn đất đen kịt, ngai ngái mùi lá mục bám chặt vào gấu quần vải thô và đôi bàn chân tê buốt của người thợ đang lầm lũi vác từng bao đá hộc. Khi đối diện với ánh nhìn coi thường của kẻ đứng trên cao hay những lời chê bai cay nghiệt nơi chốn mưu sinh, phản xạ tức thời của con người là vùng vằng tự vệ, cố gột rửa sự lấm lem bằng cách chạy theo những hư danh hào nhoáng. Thế nhưng, cành hoa nở rộ trên đỉnh núi cao luôn là thứ bị gió lốc quật nát đầu tiên, và kẻ dốc cạn máu thịt để đổi lấy một tiếng khen phù phiếm luôn sống trong nỗi sợ hãi tột cùng ngày ánh hào quang ấy tắt lịm.
Bản chất của địa chất học và thổ nhưỡng học lại phơi bày một sự thật lạnh lùng rằng mọi sự trù phú bền vững nhất trên mặt đất đều được sinh ra từ nơi thấp trũng và lấm lem nhất. Trong suốt hàng triệu năm phong hóa, các đỉnh núi đá cao ngạo liên tục bị mưa gió bào mòn, rửa trôi toàn bộ khoáng chất để rồi mọi phù sa, bùn đất, xác thực vật phân hủy và nguồn nước ngầm đều lắng đọng xuống đáy thung lũng, tạo nên tầng trầm tích màu mỡ và dày đặc dưỡng chất nhất có khả năng nuôi sống cả một cánh rừng đại ngàn. Cùng lúc đó, dưới góc độ khoa học vật liệu, một tảng đá nguyên khối hay một thân gỗ mộc tự nhiên khi còn nằm ở trạng thái nguyên sơ dưới đáy cốc luôn sở hữu mạng lưới liên kết tinh thể và các bó sợi xenluloza liền mạch từ tâm ra vỏ, cho phép nó chịu được áp suất nén khổng lồ của địa tầng mà không hề suy suyển.
Sự chấp nhận những thiệt thòi, lấm lem của đời sống mà không một lời oán thán chính là quá trình bồi tụ trầm tích cho nội lực. Khi cái danh hão không còn khả năng kích hoạt cơn giận dữ hay nỗi tủi hổ, mọi lời khen tiếng chê của thế gian trôi qua tâm thức chỉ như những lớp lá mục lắng xuống đáy thung lũng, tự động phân hủy để nuôi dưỡng bản lĩnh vững chãi bên trong. Con người lúc ấy giữ được sự nguyên vẹn, mộc mạc và chất phác như tảng đá xanh nguyên khối nằm sâu dưới lòng thung, không cần bất kỳ lớp sơn phết hào nhoáng nào mà vẫn sừng sững gánh vác mọi sức nặng của cuộc đời.
Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế bất cát.
(Cái Phác tản ra thì thành khí cụ, bậc Thánh nhân dùng đó, thì làm trưởng trăm quan, cho nên sự chế tác lớn lao không cắt xẻ.)
Khép lại toàn bộ chương sách là một định lý sắc lạnh về cấu trúc và công năng: Phác tán tắc vi khí. Chữ Tán chỉ hành động pha xẻ, đục đẽo làm mất đi tính nguyên khối ban đầu; chữ Khí chỉ các đồ vật, dụng cụ đã được định hình với một chức năng cụ thể như cái bát, cái bình, chiếc rìu hay cây cột. Khi khối Phác nguyên vẹn bị xẻ vụn thành Khí, nó có được cái hữu dụng cục bộ trước mắt nhưng đồng thời đánh mất khả năng biến hóa vô tận của tổng thể: cái chén chỉ dùng để đựng nước chứ không thể làm xà nhà, cây cột chỉ dùng để chống đỡ chứ không thể chứa đựng. Bậc Thánh nhân khi vận dụng nguyên lý của cái Phác không bị phân mảnh để điều phối những con người mang tài năng chuyên biệt (các khí cụ), thì tự nhiên trở thành Quan trưởng — người đứng đầu dẫn dắt muôn vật mà không làm tổn hại đến bản tính của chúng. Từ đó, Lão Tử đi đến kết luận tối hậu: Đại chế bất cát — sự kiến tạo, cai trị hay chế tác vĩ đại nhất luôn giữ nguyên sự toàn vẹn hữu cơ, tuyệt đối không dùng lưỡi dao của sự cưỡng ép để cắt xẻ, băm vụn vạn vật.
Bi kịch âm ỉ của đời sống hiện đại nằm chính ở tiếng cưa máy và lưỡi đục đang ngày đêm xẻ vụn khối Phác nguyên sơ của con người. Ngay từ khi bước chân vào trường học cho đến lúc lao vào guồng máy công nghiệp, mỗi cá nhân đều tự nguyện hoặc bị ép buộc đẽo gọt bản thân thành một “khí cụ” sắc lẹm để vừa khít với một mắt xích thương mại. Tiếng máy cắt đá rít lên chói tai xé toạc thớ đá xanh, bụi mù mịt phủ trắng những khuôn mặt vô hồn đang lặp đi lặp lại một thao tác duy nhất suốt hàng chục năm trời. Con người tự đóng khung giá trị sinh mệnh vào một chức danh, một kỹ năng kiếm tiền hay một vai diễn xã hội cứng nhắc, để rồi khi thời thế dịch chuyển hoặc chiếc bình công năng ấy sứt mẻ, toàn bộ ý nghĩa tồn tại lập tức sụp đổ, để lại những mảnh đời vụn vỡ nằm lăn lóc bên lề cuộc mưu sinh.
Nguyên lý cơ học đứt gãy vật liệu và hiện tượng tập trung ứng suất giải thích một cách chính xác tuyệt đối sự suy yếu tất yếu của mọi quá trình cắt xẻ. Khi một tảng đá nguyên khối hay một dầm gỗ tự nhiên bị can thiệp bởi lưỡi cưa và mũi đục để tạo ra các góc cạnh, rãnh khía hay hình thù cầu kỳ, các đường sức nội lực vốn đang phân bố đều đặn và liên tục bên trong vật liệu lập tức bị cắt đứt; tại đúng những góc nhọn và đáy vết khía do con người chạm khắc nên, ứng suất cơ học sẽ dồn tụ tăng vọt gấp nhiều lần so với bề mặt trơn phẳng, biến những đường nét tinh xảo ấy thành điểm khởi phát của các vết nứt gãy chí mạng khi chịu tải trọng lớn. Một cấu trúc chịu lực vĩ đại trong tự nhiên hay trong kiến trúc cổ đại bền vững qua hàng thiên niên kỷ luôn là cấu trúc tôn trọng tối đa hình thái nguyên khối, nương theo thớ vân tự nhiên của đá và gỗ để truyền tải lực nén xuống mặt đất mà không cần cắt vụn vật liệu.
Giữ cho tâm thức và đời sống không bị cắt xẻ bởi những khuôn mẫu vụn vặt chính là đỉnh cao của nghệ thuật sinh tồn và quản trị. Dù đang đảm đương một công việc chuyên môn hay điều phối cả một hệ thống phức tạp, việc duy trì một khoảng tâm nguyên sơ, không đồng nhất bản thể với bất kỳ chức danh hay công cụ nào giúp con người thoát khỏi hiện tượng tập trung ứng suất của áp lực xã hội. Không dùng những quy tắc cứng nhắc để cắt gọt bản thân hay áp đặt lên người xung quanh, mọi thành phần trong cuộc sống tự khắc vận hành nhịp nhàng theo đúng thiên tính tự nhiên, tạo nên một chỉnh thể vững chãi, dung dị và bất hoại trước mọi biến thiên của thời cuộc.
Nắng chiều dần tắt trên sườn núi đá vôi, trả lại vẻ trầm mặc cho thung lũng sau một ngày vang động tiếng búa gõ. Người thợ thu dọn những chiếc choòng sắt đã mòn vẹt mũi cho vào giỏ mây, lặng lẽ bước xuống con đường mòn dẫn về phía khe suối rửa sạch lớp bụi đá xám trắng trên đôi bàn tay. Giữa làn nước mát lạnh đang trôi êm ả qua những hòn cuội tròn trịa, tảng đá mộc khổng lồ dưới đáy khe vẫn nằm im lìm trong bóng tối dịu dàng của buổi hoàng hôn, nguyên vẹn từng thớ đá thô ráp, lặng lẽ hứng trọn từng giọt sương đêm đang bắt đầu rơi xuống từ khoảng không vô tận.






